Part 1: Bản chất và những nhầm lẫn giữa blockchain và cryptocurrency



2017 là năm thăng hoa của thị trường cryptos và hình thức gọi vốn cộng đồng ICO. Người ta hết lời khen ngợi công nghệ blockchain, cryptocurrencies, đưa ra hàng loạt những phân tích, dự báo về ứng dụng và lợi ích của chúng. Dĩ nhiên cũng có một số ý kiến chỉ trích cryptos như là bong bóng lừa đảo lớn nhất trong lịch sử. 2018, thị trường rơi tự do, mất khoảng hơn 85% tổng giá trị kể từ đỉnh cao. Khi đa số cá nhân và các quỹ đầu tư trong ngành ngỡ ngàng nhận ra tiền của họ đã bốc hơi rất nhiều thì cũng là lúc mùa đông cryptos dài nhất (kể từ khi ra đời) làm tê cứng hoạt động đầu tư và giao dịch. Có rất nhiều tranh cãi đâu là nguyên nhân thất bại, đâu là tương lai của thị trường. Bài viết này góp vài ý kiến xoay quanh chủ đề đó.

Trước hết cần làm rõ một số khái niệm mà tác giả tin rằng, một bộ phận không nhỏ các nhà đầu tư vào thị trường cryptos vẫn còn nhầm lẫn hoặc chưa hiểu rõ.

1. Blockchain vs Cryptos
Blockchain hay Distributed Ledger nói chung là công nghệ sổ cái (kế toán) phân tán, dựa trên cơ sở cryptography (mật mã học) nhằm đạt được sự đồng thuận (consensus) về các thông tin được ghi lại trên cơ sở dữ liệu, lưu trữ phân tán ở các nút mạng. Blockchain và Distributed Ledger Technologies (DLTs) đã được công nhận rộng rãi là một công nghệ đột phá, có nhiều lợi ích nổi bật như tính an toàn, bảo mật, minh bạch và (hầu như) không thể thay đổi.

Cryptos hay Cryptocurrency là một ứng dụng của blockchain và DLT trong lĩnh vực tiền tệ – thanh toán. Bắt đầu từ bitcoin, cryptocurrency mở ra một khái niệm mới “internet of value”, tức là internet có thể mang giá trị thay vì chỉ là thông tin như trước đó “internet of information”. Rõ ràng cryptos giúp cho việc chuyển tiền, đặc biệt là xuyên biên giới, dễ dàng nhanh chóng chưa từng có với chi phí cực thấp. Hàng triệu đô la có thể chuyển đi bất kỳ đâu trên thế giới trong vòng vài chục phút với phí vài đô la, điều không tưởng với tất cả hệ thống ngân hàng và dịch vụ chuyển tiền truyền thống.

DLT nói chung và blockchain nói riêng vẫn liên tục phát triển và ngày càng được đầu tư nhiều hơn bởi các tập đoàn lớn, các công ty và các quốc gia. Bản thân công nghệ đó hoàn toàn có thể tách biệt với cryptocurrency, ví dụ, Hyperledger Fabric, Corda, Quorum, thậm chí là Ripple Net hay Stellar Lumens. Trái lại, cryptos bắt buộc phải dựa trên nền tảng blockchain hoặc là DLT.

Blockchain có hai loại: permission-less và permissioned. Permissionless blockchain hay public blockchain là phổ biến nhất hiện nay, nền tảng của hầu hết các cryptos (loại trừ XRP). Bản chất của nó là bất kỳ ai cũng có thể tham gia vận hành mạng lưới mà không cần sự cấp phép (permission) từ một người nào đó. Permissioned blockchain xuất hiện dưới những tên gọi khác như private / consortium / enterprise blockchain, ví dụ Hyperledger Fabric, Corda, Quorum hay Ripple Net. Để tham gia mạng lưới permissioned blockchain, cần sự cho phép của người tạo ra.

Blockchain tuy có nhiều ưu điểm so với hình thức sổ cái tập trung truyền thống, song cần hiểu rằng nó không phải và không bao giờ là an toàn và bảo mật tuyệt đối. Đơn giản, không có thứ gì như vậy cả. Thực tế đã có nhiều blockchain bị tấn công. Dữ liệu trên blockchain vẫn có thể bị sửa đổi trong một vài trường hợp đặc biệt, chẳng hạn đồng thuận thay đổi của đa số nút mạng hay một cuộc tấn công (giả thuyết) bằng máy tính lượng tử.

Bên cạnh những ưu điểm chưa từng có, cryptocurrency chứa đựng những hạn chế căn bản. Đầu tiên là tính biến động cao về giá trị. Bitcoin được tạo ra để làm một loại đồng tiền kỹ thuật số có thể thanh toán dễ dàng toàn cầu. Nhưng sự biến động lớn về tỉ giá chống lại chính mục đích ban đầu khi người ta tạo ra nó. Hệ thống thanh toán, căn bản và nhất thiết cần một thứ ổn định để định giá các loại hàng hóa và dịch vụ. Thứ hai là nguy cơ rửa tiền và tài trợ khủng bố. Tuy rằng blockchain rất minh bạch, nhưng cryptos thì không hẳn như vậy. Không thể xác định ai là chủ của một tài khoản bitcoin hay cryptos nào đó nếu họ không tiết lộ. Nhiều vụ hack trên các sàn giao dịch trị giá hàng chục triệu đô la nhưng người ta rất khó truy tìm dấu vết số coins đã bị đánh cắp, càng không thể biết được hackers. Cryptos và những coin ẩn danh (Monero, Dash, etc) là phương thức lý tưởng cho việc rửa tiền và tài trợ khủng bố. Thứ ba là khó quản lý do không có đơn vị kiểm soát tập trung, sự ẩn danh người dùng và truy vết giao dịch. Các chính phủ rất e ngại về cryptos nói chung, nhất là các coin ẩn thông tin giao dịch. Ngoại trừ Nhật Bản, các nước chưa có hành lang pháp lý rõ ràng cho cryptos. Ba hạn chế căn bản này khiến cho sự chấp nhận và phổ biến của cryptos trở nên khó khăn rất nhiều.

2. Phân loại cryptos
Dựa trên bản chất blockchain, căn bản có thể nhìn thấy thị trường gồm 2 loại cryptos: (i) coins là native token của một blockchain nào đó, ví dụ BTC của bitcoin blockchain, ETH của Ethereum, tương tự với XRP, EOS, XLM, ADA, etc; (ii) utility tokens được tạo ra trên một blockchain nào đó dành cho một hệ sinh thái đặc biệt nào đó, ví dụ USDT trên bitcoin blockchain là một stablecoin neo giá bởi đô la Mỹ, BNB ban đầu được tạo ra trên Ethereum là token tiện ích của sàn Binance.

Cách khác, có thể phân loại cryptos thành 3 nhóm chính tùy vào mục đích khi nhà phát triển tạo ra nó và các đặc tính nội tại trong hệ sinh thái mà nó đang phục vụ.

Coins dành cho thanh toán và chuyển tiền. Đây chính là nguồn gốc của từ crypto-currencies tức là tiền mã hóa. Bitcoin, Bitcoin Cash, Monero, Dash được tạo ra với mục đích đó. Nhóm này ít nhất trên thị trường.
Coins nền tảng ứng dụng. Ether, EOS, XLM, ADA là coins nền tảng cho các ứng dụng phân quyền, riêng XRP là coin ứng dụng thanh toán quốc tế cho các ngân hàng, được phát hành, kiểm soát và quản lý tập trung.
Utility token (token tiện ích). Đây là nhóm lớn nhất thị trường cryptos, chiếm hơn 90% tổng số. Nó được sinh ra trên một blockchain nền tảng (blockchain base), phục vụ cho một hệ sinh thái đặc biệt nào đó, ví dụ USDT, BNB, ENJ, BAT etc.
Nhóm coins thanh toán và coins nền tảng tuy có số lượng khá ít nhưng lại chiếm phần lớn vốn hóa thị trường. Chỉ tính riêng BTC, ETH, XRP, BCH và EOS (chính là Top5) đã chiếm hơn 76% tổng vốn hóa toàn thị trường cryptos. Chú ý rằng chưa có sự phân loại cũng như thuật ngữ thống nhất cho các loại cryptos.

3. Sơ lược bản chất kinh tế của Cryptos
Cho dù là native tokens hay không, cho dù là coins thanh toán, coins nền tảng hay utility tokens, có một bản chất kinh tế của cryptos xuyên suốt và không thay đổi chính là lưu chuyển giá trị. Đây chính là yếu tố cần và đủ để một blockchain network nào đó trở thành internet of value.

Cần nhắc lại một chút về khái niệm “giá trị” trong kinh tế học. Mặc dù có nhiều trường phái khác nhau, chung qui Giá trị (value) chỉ có được khi hội tụ đủ hai yếu tố cấu thành: chi phí lao động (labor) và tính chất hữu dụng (usage). Ví dụ, vàng mất công đào, tìm kiếm, có thể làm trang sức; lúa gạo mất công trồng trọt, là lương thực; một cuốn sách được viết ra, có giá trị cho nhiều người đọc. Khi một thứ có giá trị (tức là có lao động + giá trị sử dụng) thì người ta có thể đem trao đổi mua bán. Nước ở sông suối, mặc dù có thể dùng để uống, tắm rửa nhưng không ai bỏ tiền mua vì không có công lao cộng của con người, tức không có giá trị. Nhưng khi nước đi qua nhà máy xử lý, chuyển tới từng căn hộ thì nó có giá trị. Không khí rất cần cho sự sống, nhưng không ai phải mua, vì nó có sẵn khắp nơi. Một đứa trẻ, ngồi chơi, nặn đất sét, tức là bỏ công sức lao động, nhưng không ai mua cục đất đó, vì nó không có giá trị sử dụng. Một thứ gì đó (hàng hóa vật lý, dịch vụ hoặc sản phẩm tinh thần) được coi là có giá trị (thật sự), được công nhận chung, khi và chỉ khi con người phải bỏ công sức để làm ra nó, và nó phải hữu ích, tức là có giá trị sử dụng ở đâu đó.
Các loại tiền kim loại xưa (tiền vàng, bạc, đồng) là tiền thật, tức là có giá trị thật, được con người lấy làm trung gian trao đổi hàng hóa và dịch vụ. Tiền giấy là một thứ đặc biệt, được phát hành bởi người có quyền lực dựa trên ước lượng về một khối lượng tài sản và hàng hóa nào đó (chẳng hạn, vàng bạc, hàng hóa vật chất trong xã hội). Tiền giấy rất thuận tiện cho việc phát hành cũng như giao dịch, nó ghi giá trị trao đổi nhưng hầu như không có giá trị thật. Chỉ có tiền giấy mới mất giá (lạm phát) bởi vì người ta có thể phát hành tùy ý với chi phí rất thấp nhưng lại ghi giá trị rất cao. Ví dụ chi phí để in tờ $100USD không tới $1USD.

BTC, ETH và một số coin khác sinh ra từ Proof of Work (PoW) có thể xếp vào loại tiền thật, chúng có giá trị thật. Chi phí điện năng và máy tính để chạy một khối lượng lớn các phép tính chính là lao động máy móc thay thế con người. Ngoài ra, chúng được nhiều người chấp nhận sử dụng để thanh toán, giao dịch theo một tỉ lệ thỏa thuận nào đó.

EOS, XLM, ADA và các coin nền tảng Proof of Stake nói chung có vài đặc tính giống như tiền giấy hơn. Không như PoW, PoS yêu cầu rất ít chi phí tính toán (tức lao động). Tuy nhiên, về mặt vốn đầu tư (capital) ban đầu cho Stake thì khá tương đồng với vốn mua máy đào.

Như vậy, hai nhóm native coins ở trên chứa đựng những bản chất kinh tế và lý thuyết giá trị cơ bản, có tiềm năng trở thành thứ vận chuyển giá trị phổ biến trên internet. Đáng tiếc, PoW coins tiêu tốn quá nhiều năng lượng cho những phép tính vô ích, trong khi không có khả năng mở rộng.

Một số cực kỳ hiếm hoi các utility token cũng khai thác đc nguyên lý giá trị, chẳng hạn các token của các content platform phi tập trung, ví dụ Lino Network (D-youtube), Steem (D-FB). Chúng trao quyền sở hữu content (nội dung) vào tay người dùng tạo ra nó, và content chắc chắn có labor, khi người khác dùng content đó thì có usage, vậy là content mang lại value và token là đại diện cho value đó. Tuy nhiên, có một sự bất hợp lý rằng các đơn vị token là như nhau, ví dụ 1 STEEM = 1 STEEM, trong khi mỗi content được tạo ra là duy nhất, hoàn toàn khác biệt.

Còn lại hầu hết utility token đều là không khí, thậm chí không bằng không khí. Chúng không cần vốn đầu tư, không cần lao động. Về bản chất, chúng không có giá trị (chúng còn tệ hơn tiền giấy bởi không có cơ quan quyền lực bảo lãnh). Dĩ nhiên, cái gì cũng có thể đem ra trao đổi, tức là có giá trị trao đổi, nếu người ta đồng thuận chấp nhận việc đó, câu chuyện tiền vỏ sò cổ xưa là ví dụ. Tuy nhiên, nếu có thêm giá trị vốn, lao động và giá trị sử dụng thì bản chất kinh tế sẽ bền vững hơn nhiều.

Trở lại vấn đề thanh toán (payment), dùng đồng tiền nào chẳng được, miễn là chúng có một giá trị được chấp nhận chung. Có người tranh luận rằng, blockchain ecosystem như một mô hình quốc gia, cần phải có native currency. Quả là một sai lầm nghiêm trọng hoặc là một sự bao biện và diễn dịch cố ý để giải thích cho token model thất bại. Dễ thấy đồng tiền của một quốc gia mang tính chính trị sâu sắc. Kể cả như vậy, nếu bạn đến Budapest, bạn có thể tiêu EURO hoặc tiền bản địa, tương tự khi bản ở Vientien (Laos), bạn có thể chi trả bằng tiền Lào, tiền Thái hoặc tiền Việt. Ngoài ra, public blockchain lý tưởng hóa các mô hình phi chính trị, không biên giới, tại sao lại cố phát hành đồng tiền riêng cho thanh toán như một quốc gia. Mâu thuẫn hết sức. Tạm chưa kết luận cho nhóm native coins của các blockchain và utility tokens cho content vì chúng vẫn có những giá trị nhiều hơn chỉ là sự qui ước, còn lại 99% các utility tokens khác đều là những mô hình kinh tế bao biện và sai lầm, sớm muộn cũng sẽ bị đào thải sạch sẽ. Tại sao BitTorrent phải sinh ra BTT token trong khi có thể dùng đồng TRON để thanh toán cho việc chia sẻ file? Gần đây, nhiều stablecoins (một loại utility token đặc biệt được neo giá cố định bởi fiat, không biến động lớn như hầu hết số còn lại) ra đời, chúng sẽ là công cụ tuyệt vời cho thanh toán điện tử trên nền tảng blockchain. Ngoài ra, giải pháp cross-chain sẽ cho phép một coins có thể dùng để thanh toán ở nhiều blockchains khác nhau.

Part 2 sẽ bàn kĩ hơn về nhóm native tokens, hoạt động ICO và sự thất bại của nó, cùng với đó là một số giả thuyết về tương lai của cryptos.

Bài viết của tác giả chắc chắn có nhiều khiếm khuyết. Rất mong nhận được sự tranh luận và đóng góp. See you again.

@Thuat86

Follow us on: